Hướng dẫn cách học và làm bài thi HSG Địa lý

Hướng dẫn cách học và làm bài thi HSG Địa lý

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (350.82 KB, 35 trang )

Phần hai
HƯỚNG DẪN CÁCH HỌC VÀ LÀM BÀI THI HỌC SINH GIỎI
ĐỊA LÍ
A. MỘT SỐ YÊU CẦU TRONG HỌC TẬP ĐỐI VỚI HỌC SINH GIỎI ĐỊA LÍ
Điểm khác của học sinh (HS) giỏi với học sinh bình thường là ở chỗ HS giỏi
nắm kiến thức cơ bản địa lí vững chắc và toàn diện hơn, có kĩ năng địa lí hoàn
thiện hơn và đặc biệt, có tư duy địa lí linh hoạt và sâu sắc hơn. Ở mức độ cao
hơn nữa, HS giỏi là những người có khả năng sáng tạo, nghĩa là khả năng tìm
ra cái mới, cách giải quyết mới.
Như vậy, để trở thành HS giỏi nói chung và HS giỏi địa lí nói riêng, cần phải
rèn luyện trên cả ba phương diện : kiến thức, kĩ năng địa lí và kĩ năng tư duy.
1. Kiến thức
a) Kiến thức địa lí phổ thông hiện hành gồm cả địa lí đại cương (tự nhiên,
kinh tế – xã hội), địa lí thế giới (tự nhiên, kinh tế – xã hội), địa lí Việt Nam
(tự nhiên, kinh tế – xã hội). Chương trình địa lí THPT yêu cầu HS phải nắm
vững một số kiến thức phổ thông, cơ bản, mang tính hệ thống, thiết thực về :
– Trái Đất – môi trường sống của con người (các thành phần cấu tạo và tác
động qua lại giữa chúng, một số quy luật của môi trường tự nhiên trên Trái
Đất ; dân cư và các hoạt động của dân cư trên Trái Đất ; mối quan hệ giữa
dân cư, hoạt động sản xuất và môi trường).
– Đặc điểm của nền kinh tế thế giới đương đại. Đặc điểm tự nhiên, dân cư,
kinh tế – xã hội của một số khu vực, quốc gia trên thế giới.
– Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân cư, kinh tế và những vấn đề
đặt ra đối với tự nhiên, dân cư, kinh tế – xã hội của đất nước, của các vùng
và địa phương nơi HS đang sinh sống.
b) Trong mỗi lĩnh vực, những kiến thức cơ bản mà HS cần hiểu sâu, nhớ lâu,
vận dụng được là các khái niệm, mối liên hệ nhân quả địa lí, quy luật địa lí,
các học thuyết, quan điểm địa lí. Những loại kiến thức này làm rõ bản chất
tri thức địa lí.
– Các khái niệm địa lí nhằm phản ánh bản chất của sự vật, hiện tượng địa lí và
mối quan hệ giữa chúng với nhau. Trong chương trình địa lí THPT, chúng

128
có thể được trình bày theo nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc vào nội dung
khái niệm. Có những khái niệm được trình bày một cách khái quát, ngắn
gọn, chẳng hạn như : “Thổ nhưỡng (đất) là lớp vật chất tơi xốp ở bề mặt lục
địa, được đặc trưng bởi độ phì”, hay “Nội lực là lực phát sinh ở bên trong
Trái Đất”,… Tuy nhiên, do nội dung phức tạp của nhiều sự vật, hiện tượng
địa lí, nên một số khái niệm được trình bày theo lối diễn dịch, liên quan đến
nhiều kiến thức địa lí khác. Ví dụ, khái niệm về chuyển động biểu kiến hằng
năm của Mặt Trời, về hiện tượng mùa và hiện tượng ngày đêm dài ngắn
theo mùa, về gió mùa,… Việc hiểu một khái niệm địa lí thường phải dựa trên
ít nhất một khái niệm khác đã học có liên quan ; có nhiều khái niệm mà để
hiểu được phải dựa trên cơ sở của nhiều khái niệm khác, ví dụ : giờ trên Trái
Đất, quy luật địa đới, tính đai cao, …
– Các mối liên hệ nhân quả là loại kiến thức phổ biến trong địa lí. Việc giải
thích các hiện tượng địa lí phần lớn phải dựa vào các mối liên hệ này. Các
mối liên hệ nhân quả có nhiều loại khác nhau. Có những mối liên hệ đơn
giản (chỉ có một nguyên nhân và một kết quả), ví dụ : mối liên hệ giữa độ
cao địa hình và nhiệt độ không khí, nhiệt độ và khí áp, độ ẩm và khí áp, cấu
tạo của đá và nước ngầm, chế độ mưa và nhiệt với chế độ nước sông, dòng
biển với lượng mưa ven bờ đại dương, đá mẹ và thổ nhưỡng, khí hậu và sự
phân bố sinh vật,… Có những mối liên hệ nhân quả phức tạp (một nguyên
nhân gây ra nhiều kết quả, hay nhiều nguyên nhân gây ra một kết quả), ví dụ
: vận động tự quay quanh trục của Trái Đất đã gây ra các hệ quả như sự luân
phiên ngày đêm, chuyển động biểu kiến hằng ngày của các thiên thể, giờ
trên Trái Đất, sự lệch hướng chuyển động của các vật thể ; sự phân bố nhiệt
độ trên Trái Đất chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, như : hình dạng và vị trí
của Trái Đất so với Mặt Trời, sự phân bố lục địa và biển, các dòng biển
nóng và lạnh,…. Các nguyên nhân và kết quả liên tục kế tiếp nhau tạo ra một
chuỗi mối liên hệ nhân quả, ví dụ : ở thảo nguyên với khí hậu lục địa nửa
khô hạn có thực vật chủ yếu là cỏ, tạo nên đất đen có tầng mùn dày ; ở sườn

núi, khi lên cao, nhiệt độ, lượng mưa và áp suất không khí thay đổi, do đó
sinh vật phân bố theo từng vành đai thẳng đứng cũng khác nhau ; địa hình
có tác động đến sự phân bố lại lượng nhiệt và ẩm trong đá mẹ, nhiệt và ẩm
đó có tác động đến chiều hướng và cường độ của quá trình hình thành đất,…
– Các quy luật địa lí thường được học tập trung ở chương cuối của một phần
hay một số phần (trong một lớp), có tính khái quát các mối liên hệ nhân quả
phổ biến và lặp đi lặp lại thường xuyên. Học thuyết được học trong chương
trình địa lí tuy không nhiều, nhưng rất cần thiết cho việc hiểu được nhiều
129
kiến thức địa lí khác (Ví dụ, học thuyết BicBang về sự hình thành Vũ trụ,
thuyết kiến tạo mảng. Đặc biệt thuyết kiến tạo mảng cho phép giải thích rất
nhiều sự vật và hiện tượng trên Trái đất, ví dụ sự tạo núi, các vành đai núi
lửa và động đất,…).
– Ngoài các kiến thức cơ bản trên, trong sách giáo khoa còn trình bày về các sự
vật hiện tượng địa lí cụ thể, các biểu tượng địa lí,… Các kiến thức này đóng
vai trò hoặc để cụ thể hoá các kiến thức cơ bản trên, hoặc là cơ sở để rút ra
các kiến thức khái quát.
c) Kiến thức địa lí phổ thông mà HS cần nắm, được chia thành 6 mức độ :
Biết : Ghi nhớ được các sự kiện, khái niệm, định nghĩa, hệ quả, thuật ngữ và
các nguyên lí dưới hình thức được học.
Hiểu : Hiểu được kí hiệu, ý nghĩa và mối liên hệ trong khái niệm, định lí, hệ
quả, công thức,… Có khả năng diễn giải, mô tả, tóm tắt thông tin đã thu
được, không nhất thiết phải liên hệ tư liệu này với tư liệu khác.
Vận dụng : Sử dụng thông tin trong các tình huống khác với tình huống đã
học ; khái quát hoá, trừu tượng hoá những kiến thức đã biết.
Phân tích : Biết cách tách tổng thể thành các bộ phận và biết rõ sự liên hệ
giữa các bộ phận đó với nhau trong cùng một cấu trúc.
Tổng hợp : Biết kết hợp các bộ phận thành một tổng thể mới từ tổng thể cũ.
Cần có khả năng phân tích để đi đến tổng hợp. Ở đây bắt đầu thể hiện sự
sáng tạo của cá nhân.

Đánh giá : Đòi hỏi có những hành động so sánh, phê phán, chọn lọc, quyết
định trên cơ sở các tiêu chí và tính hợp lí. Cần có khả năng tổng hợp để đánh
giá.
Cũng là một kiến thức, nhưng có thể yêu cầu HS nắm ở 6 mức độ khác
nhau. Ví dụ : kiến thức “Hệ quả chuyển động tự quay của Trái Đất”, yêu cầu
theo 6 mức như sau :
– Biết : Nhớ được 3 hệ quả : sự luân phiên ngày đêm, giờ trên Trái Đất và
đường chuyển ngày quốc tế, sự lệch hướng chuyển động của các vật thể.
– Hiểu : Không những nhớ mà còn phải giải thích được như thế nào là sự luân
phiên ngày đêm, như thế nào là giờ địa phương, giờ quốc tế, đường chuyển
ngày quốc tế, sự lệch hướng chuyển động của các vật thể khác nhau giữa hai
bán cầu như thế nào.
– Áp dụng : Sử dụng kiến thức về sự lệch hướng chuyển động của các vật thể
để giải thích sự lệch hướng gió trên Trái Đất, sự mài mòn đường ray xe lửa
130
bên phải ở các nước thuộc bán cầu Bắc… giải thích được hiện tượng trong
nhật kí ghi chậm một ngày lịch so với lịch địa phương khi về lại đích của
các đoàn thám hiểm vòng quanh Trái Đất…
– Phân tích : Làm rõ được nguyên nhân của sự luân phiên ngày đêm là do hai
yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau : Hình khối cầu của Trái Đất làm cho
nó luôn được chiếu sáng một nửa (ngày), còn một nửa khuất trong bóng tối
(đêm). Đồng thời, do Trái Đất tự quay quanh trục, nên mọi nơi trên bề mặt
Trái Đất đều lần lượt được Mặt Trời chiếu sáng rồi lại chìm trong bóng tối,
gây nên hiện tượng luân phiên ngày đêm. Thiếu đi một trong hai yếu tố đó
sẽ không có hiện tượng luân phiên ngày đêm. Hoặc, phải đặt ra đường
chuyển ngày quốc tế, vì trên Trái Đất có một múi giờ, tại đó vừa là 0 giờ
(của ngày hôm sau), vừa là 24 giờ (của ngày hôm trước). Hai bên đường
kinh tuyến có ngày khác nhau. Do vậy, khi vượt qua kinh tuyến đó theo
chiều từ tây sang đông phải cộng thêm một ngày ; ngược lại – phải trừ đi 1
ngày. Đường kinh tuyến đó được gọi đường chuyển ngày quốc tế.

– Tổng hợp : Có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng trên cơ sở phân tích
trên, có thể HS dự đoán được kết quả của trường hợp giả định nếu Trái Đất
không tự quay quanh trục, thì có hiện tượng ngày đêm không ? Lúc đó thời
gian một ngày đêm trên Trái Đất là bao nhiêu ? Hay, nếu không đặt ra
đường chuyển ngày quốc tế, điều gì sẽ xảy ra trong quan hệ quốc tế giữa các
nước thuộc các múi giờ khác nhau ?…
HS bình thường, về cơ bản chỉ cần đạt ở mức 1 và 2, một số kiến thức có thể
đạt ở mức 3, 4… là được. HS giỏi cần phải có kiến thức đạt ở mức cao hơn,
như phân tích, tổng hợp, đặc biệt là đánh giá. Những mức này đòi hỏi các
em phải có một hệ thống tri thức địa lí nhất định, đồng thời có được các kĩ
năng tư duy cần thiết.
2. Kĩ năng địa lí
a) Học Địa lí ở THPT, HS cần phải củng cố và phát triển các kĩ năng :
– Quan sát, nhận xét, phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá các sự vật, hiện
tượng địa lí ; sử dụng bản đồ, biểu đồ, đồ thị, lát cắt, số liệu thống kê,…
– Thu thập, xử lí, trình bày các thông tin địa lí.
– Vận dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng, sự vật địa lí và giải quyết
một số vấn đề của cuộc sống, sản xuất gần gũi với HS trên cơ sở tư duy kinh
tế, tư duy sinh thái, tư duy phê phán.
b) Kĩ năng địa lí trong nhà trường phổ thông được chia ra 5 mức độ :
Bắt chước : Quan sát và cố gắng lặp lại một kĩ năng nào đó.
131
Thao tác : Hoàn thành một kĩ năng nào đó theo chỉ dẫn hơn là bắt chước
máy móc.
Chuẩn hoá : Lặp lại một kĩ năng nào đó một cách chính xác, nhịp nhàng,
đúng đắn và thường được thực hiện một cách độc lập, không phải
hướng dẫn.
Phối hợp : Kết hợp nhiều kĩ năng theo một trật tự, một cách nhịp nhàng và
ổn định.
Tự động hoá : Hoàn thành một hay nhiều kĩ năng một cách dễ dàng và trở

thành tự động, không đòi hỏi một sự cố gắng về thể lực và trí tuệ.
HS giỏi cần phải đạt được các mức độ 4 và 5 của kĩ năng. Nhờ vậy, các em
mới có thể sử dụng các kĩ năng này để tự học, tự nghiên cứu, tìm ra những
kiến thức cần nắm, hoặc vận dụng các kiến thức vào thực tế cuộc sống để
giải quyết các vấn đề thực tế.
Các kĩ năng sẽ có được một cách vững chắc nhờ vào việc luyện tập thường
xuyên và có kết quả trên cơ sở những hiểu biết cần thiết về kĩ năng.
3. Tư duy
a) Tư duy có nhiều loại. Trong học tập hiện nay, tư duy cần có ở HS là tư duy
lôgic (xem xét sự vật trong dạng tĩnh tại), tư duy biện chứng (xem xét sự vật
trong sự vận động một cách lôgic), tư duy hình tượng (hình dung ra sự vật,
hiện tượng với những đặc điểm vốn có của nó).
Ngoài ra, do đặc điểm của đối tượng địa lí, nên tư duy đặc thù của địa lí là
luôn xem xét sự vật trong các mối liên hệ và gắn liền với lãnh thổ, dựa vào
bản đồ. Ví dụ : Khi nhận xét một địa điểm nào đó mưa nhiều hay ít, phải
xem xét chúng trong mối quan hệ với các dạng địa hình núi (nằm ở sườn
đón gió hay khuất gió, ở độ cao nào), trong vùng khí hậu nào, gió thổi đến
hướng nào, có đi qua biển không, địa điểm đó nằm gần kề hay xa biển (hoặc
đại dương), có dòng biển nóng hay dòng lạnh chảy ven không… vì những
yếu tố này đều tác động đến lượng mưa nhiều hay ít của một địa điểm.
b) Tư duy diễn ra trong khuôn khổ của các thao tác tư duy : phân tích, tổng
hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá. Nếu sử dụng các thao tác tư
duy này một cách linh hoạt, thì sẽ đưa đến các kết quả thích hợp. Do vậy
trong quá trình học tập cũng như ôn luyện thi HS giỏi địa lí cần phải chú
trọng rèn luyện các thao tác tư duy này.
132
B. MỘT SỐ BIỆN PHÁP HỌC TẬP CÓ HIỆU QUẢ TRONG
ÔN LUYỆN THI HỌC SINH GIỎI ĐỊA LÍ
1. Nhớ kiến thức một cách lôgic
Muốn có tư duy lôgic, phải có một hệ thống kiến thức nhất định. Một số

nghiên cứu của các nhà khoa học sư phạm trên thế giới chỉ ra rằng, sở dĩ
trong môn Địa lí, HS THPT hiện nay có tư duy không tốt là do thiếu những
kiến thức cần thiết, trong đó đặc biệt là hệ thống khái niệm địa lí. Việc nắm
vững một hệ thống kiến thức địa lí cơ bản làm cơ sở cho tư duy, sẽ tạo cơ sở
cho việc nắm những kiến thức địa lí mới. Kiến thức mới lại tiếp tục làm cơ
sở cho tư duy để nhận thức được những kiến thức khác mới hơn…
Hiện nay, một số HS có quan niệm cực đoan rằng chỉ cần có tư duy tốt là đủ
để nắm được các kiến thức cần thiết ; hay nói cách khác, chỉ cần thông minh
là thi được HS giỏi địa lí. Đó là một quan niệm không đúng. Cần nhớ rằng
mục tiêu của việc học tập là vừa có được những kiến thức cơ bản, vừa phát
triển được năng lực tư duy. Muốn tư duy phải có kiến thức (tựa như “có bột
mới gột nên hồ” vậy). Không có đủ kiến thức cần thiết, như nói ở trên,
không thể có tư duy địa lí được. Chính vì vậy, học để nắm chắc kiến thức là
việc làm hết sức quan trọng, không chỉ riêng đối với HS giỏi địa lí, mà đối
với tất cả các em học sinh nói chung.
Nắm chắc kiến thức có nghĩa là hiểu được, nhớ lâu bền kiến thức địa lí cần
thiết và có thể vận dụng được vào các trường hợp cụ thể. Để nhớ lâu bền,
cần phải có trí nhớ lôgic. Muốn ghi nhớ lôgic, trong quá trình ghi nhớ phải
hiểu và vận dụng được các quy luật của trí nhớ.
a) Trí nhớ là hoạt động phản xạ có điều kiện. Muốn lập được phản xạ có điều
kiện, thông tin phải lặp đi lặp lại nhiều lần. Do vậy, trong ghi nhớ kiến thức,
việc ôn tập thường xuyên tỏ ra hết sức cần thiết. Sau một số bài, sau một
chương hoặc một số chương, cần phải ôn tập để tăng cường ghi nhớ.
b) Nhớ lâu được dựa trên ấn tượng mạnh. Một kiến thức hay, một cách giải
quyết vấn đề độc đáo, một lần bị sai lầm và nhận ra được,… là những ấn
tượng khó quên, lưu lại lâu bền trong trí nhớ mỗi HS. Vì vậy, khi học bài địa
lí, cần chú ý tạo ra các ấn tượng sâu về kiến thức. Các ấn tượng có thể bắt
nguồn từ việc sử dụng phương tiện trực quan trong khi học bài (ví dụ khi
học về các sự vật, hiện tượng địa lí nên sử dụng Atlát địa lí, hay bản đồ
trong SGK, bản đồ treo tường ; khi học về các tầng đất nên quan sát phẫu

diện ; khi học về hình thái địa hình nên dựa vào lát cắt địa hình….), từ việc
kết hợp nghe và nhìn (quan sát videoclip, băng hình địa lí…), từ việc làm
(trao đổi, tranh luận với bạn ; làm các bài thực hành, giải các bài tập địa
133
lí…). Một kết quả nghiên cứu sư phạm đã chỉ ra : kiến thức được nhớ là nhờ
10% qua đọc, 20% qua nghe, 30% qua nhìn, 50% qua nghe và nhìn, 80%
qua nói và 90% qua làm. Vì vậy, để tăng cường ghi nhớ, nên chọn các biện
pháp học tập đề cao vai trò của trao đổi, thảo luận, thực hành, hoặc kết hợp
nghe và nhìn, hỏi thầy và bạn về những điều chưa rõ…
c) Nhớ lâu bắt nguồn từ hứng thú học tập. Nếu một HS đam mê với việc giải
thích các hiện tượng địa lí, HS đó sẽ nhớ về các mối liên hệ nhân quả tốt
hơn ; nếu thích thú với các hiện tượng địa lí diễn ra xung quanh môi trường
sống, HS đó quan tâm nhiều hơn đến việc quan sát thực tế và vận dụng kiến
thức địa lí vào giải quyết những vấn đề đó… Như vậy, hứng thú có thể ví như
một chất men kích thích việc học tập. Hứng thú học tập phải được tạo ra
bằng thái độ, động lực học tập (ví dụ học giỏi để thi đạt kết quả cao) và
được nuôi dưỡng suốt trong quá trình học tập. Mỗi khi gặp khó khăn, phải
tìm cách giải quyết thích hợp để đạt được nguyện vọng chính đáng đã xác
định ban đầu của bản thân.
d) Kiến thức mới được ghi nhớ trong mối quan hệ với kiến thức đã có. Những
kiến thức đã có làm cơ sở cho việc ghi nhớ các kiến thức mới cùng loại. Do
đó, khi học kiến thức mới cần phải liên hệ với kiến thức đã có. Đồng thời,
khi có được một kiến thức mới, cần phải xếp chúng vào hệ thống các kiến
thức đã có một cách hợp lí.
e) Ghi nhớ phải có tính hợp lí, đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Do
vậy, trong quá trình học tập và luyện tập cần chú ý thực hiện những nhiệm
vụ từ dễ đến khó.
g) Tập trung chú ý sẽ làm tăng cường trí nhớ. Thường não bộ không tiếp thu
thông tin hai loại cùng một lúc. Do vậy, khi học, phải tập trung tối đa vào
việc học (nghe giảng, họăc trao đổi thảo luận về nội dung học tập, giải bài

tập…). Học xong, mới tập trung vào việc khác.
g) Những thông tin sau cản trở, góp phần xoá đi những thông tin trước cùng
loại và liên tục. Đó là quy luật về ức chế tương đồng của trí nhớ. Do vậy,
nếu vừa nghe giảng xong trên lớp, về nhà học bài ngay, không tốt bằng để
sau 5 – 6 tiếng đồng hồ mới học lại bài trên lớp. Tuy nhiên, nếu khoảng thời
gian đó để quá lâu (sau 11 – 12 tiếng đồng hồ chẳng hạn), sự ghi nhớ sẽ bị
suy giảm rất nhiều.
h) Thông tin đơn giản dễ nhớ hơn thông tin phức tạp. Vận dụng quy luật này
của trí nhớ, trong học tập cần xác định các kiến thức cơ bản, hoặc các đề
mục một cách gọn rõ để dễ nhớ.
134
i) Khả năng não bộ trong ghi nhớ không phải là vô hạn. Theo nhiều nhà khoa
học, một người trong một phút chỉ học được khoảng 75 đơn vị thông tin,
trong suốt cuộc đời chỉ nhớ nổi 58 tỉ đơn vị thông tin. Do đó, trong học tập,
cần biết chọn nhớ những thông tin có ích, biết quên đi những thông tin
không cần thiết. Việc xác định những kiến thức cơ bản cần thiết khi học địa
lí là việc làm cần thiết đối với mỗi HS giỏi. Có thể chỉ cần nhớ những kiến
thức “chìa khoá”, khi cần sẽ sử dụng nó để phát triển đến những kiến thức
khác. Ví dụ, khi học về Địa lí tự nhiên đại cương, việc thông hiểu và ghi nhớ
các quy luật địa đới, phi địa đới cho phép vận dụng chúng vào việc nhận
biết và giải thích các hiện tượng khí hậu khác nhau theo vĩ độ, theo đai cao,
theo bờ đông hay bờ tây lục địa….
2. Rèn luyện kĩ năng tư duy
Tư duy được biểu hiện bằng các thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp, so
sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá). Để đánh giá một người có tư duy tốt
hay không tốt (nôm na là thông minh hay ít thông minh hơn), thường dựa
vào việc đánh giá khả năng của các thao tác tư duy. Do vậy, rèn luyện kĩ
năng tư duy, chính là rèn luyện việc sử dụng các thao tác tư duy.
a) Việc rèn luyện tư duy một cách thông dụng nhất trong thực tế học tập là
dựa vào việc tự trả lời các câu hỏi và thực hiện các bài tập (ở SGK, sách bài

tập, từ thực tế môi trường xung quanh đặt ra…). Ứng với mỗi thao tác tư
duy, có một loại câu hỏi tương ứng để tập trung rèn luyện thao tác tư duy
đó. Ví dụ, câu hỏi yêu cầu phân tích sẽ góp phần rèn luyện thao tác phân
tích của tư duy, câu hỏi yêu cầu trừu tượng hoá góp phần rèn luyện thao tác
trừu tượng hoá của tư duy…
Trong học tập địa lí hiện nay, HS nên rèn luyện kĩ năng tư duy theo các loại
câu hỏi sau :
+ Câu hỏi phân tích : nhằm gợi ý HS tách riêng từng phần của sự vật và hiện
tượng địa lí, hoặc các thành phần của mối liên hệ. Ví dụ, phân tích những
khả năng để Đồng bằng sông Cửu Long thành vùng lương thực, thực phẩm
hàng đầu của cả nước. Hay, phân tích sự thay đổi về mối tương quan giữa
xuất khẩu và nhập khẩu ở nước ta từ năm 1980 đến nay.
+ Câu hỏi tổng hợp : nhằm làm cho HS xác lập được tính thống nhất và mối
liên hệ giữa các thuộc tính của các sự vật, bộ phận hay dấu hiệu của chúng.
Câu hỏi tổng hợp không phải là tổng cộng đơn thuần các bộ phận của sự vật
địa lí. Sự tổng hợp đúng sẽ là một hoạt động tư duy mang lại kết quả mới
nhất về chất. Ví dụ : Chứng minh rằng nền công nghiệp nước ta có cơ cấu
135
ngành khá đa dạng. Vị trí địa lí nước ta có những tác động như thế nào đến
tự nhiên và phát triển kinh tế – xã hội ? Hãy chứng minh rằng, việc xây dựng
các công trình thuỷ lợi có ý nghĩa hàng đầu để sử dụng hợp lí tài nguyên
nông nghiệp của vùng Đông Nam Bộ. Hãy chứng minh rằng Hà Nội và TP.
Hồ Chí Minh là hai trung tâm công nghiệp lớn nhất nước.
Phân tích và tổng hợp là hai thao tác tư duy có liên hệ mật thiết với nhau,
không thể tách rời nhau khi hình thành khái niệm. Những dấu hiệu bản chất
của hiện tượng được phát hiện bằng cách phân tích hiện tượng đang nghiên
cứu. Đạt tới bản chất của hiện tượng trong sự hoàn chỉnh và thống nhất là
sản phẩm của tổng hợp. Do vậy câu hỏi phân tích và tổng hợp luôn luôn đi
kèm với nhau, có quan hệ chặt chẽ với nhau, đôi lúc trong loại câu hỏi này
có thành phần của loại câu hỏi kia tham gia.

+ Câu hỏi so sánh, liên hệ : nhằm liên hệ các sự vật và hiện tượng địa lí lại với
nhau trong các mối quan hệ địa lí có thể có và thiết lập sự giống nhau, khác
nhau giữa chúng. Ví dụ : Hai trung tâm công nghiệp lớn Hà Nội và TP. Hồ
Chí Minh có những điểm giống nhau như thế nào về cơ cấu ngành ? Nêu
những điểm giống nhau và khác nhau về nguồn lực phát triển kinh tế – xã
hội của vùng Đông Nam Bộ với Trung du và miền núi Bắc Bộ. Sự khác
nhau đó có tác động như thế nào đến sự phát triển kinh tế của hai vùng ?
Phân biệt các hình thức tổ chức trang trại, thể tổng hợp nông nghiệp và vùng
nông nghiệp… Khi đặt câu hỏi so sánh, những đối tượng so sánh có thể có
những nét tương đồng hay trái ngược nhau.
+ Câu hỏi nguyên nhân – kết quả : là loại câu hỏi nêu lên mối liên hệ nhân quả,
một trong những dạng liên hệ có tính chất phổ biến trong bài địa lí. Ví dụ :
Tại sao thời gian mùa nóng ở Bắc bán cầu dài hơn ở Nam bán cầu ? Tại sao
phân bố dân cư trên thế giới có sự khác nhau giữa các vùng, các châu lục,
các quốc gia ? Giải thích tại sao các thành phố lớn cũng đồng thời là các
trung tâm dịch vụ lớn. Tại sao ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực
phẩm trở thành ngành công nghiệp trọng điểm của nước ta ?…
+ Câu hỏi khái quát hóa : là loại câu hỏi dùng để khái quát hóa các kiến thức
cụ thể, nêu lên cái chính, cái căn bản, cái “chung”, thường dùng vào cuối
chương hay tổng quát cuối bài. Ví dụ : Hãy nêu các thế mạnh của vùng
Đông Nam Bộ trong việc phát triển tổng hợp nền kinh tế vùng ? Nêu những
đặc điểm cơ bản của khu công nghiệp tập trung và trung tâm công nghiệp.
Thực tế cho thấy, để thực hiện một câu hỏi, dù với yêu cầu chính là sử dụng
một thao tác tư duy, nhưng HS vẫn phải vận dụng nhiều thao tác tư duy để
thực hiện. Ví dụ : Để trả lời câu hỏi “Tại sao ở Duyên hải miền Trung cần
136
phải kết hợp nông – lâm – ngư nghiệp trong phát triển kinh tế ?”, HS cần phải
sử dụng nhiều thao tác tư duy như : phân tích (để thấy rõ tiềm năng và hiện
trạng phát triển nông – lâm – ngư nghiệp), tổng hợp (để thấy được bức tranh
chung về tiềm năng và hiện trạng phát triển nông – lâm – ngư nghiệp), trừu

tượng hoá (để chọn ra được hướng phát triển chính của vùng lãnh thổ và
khái quát hoá (để kết luận về hướng phát triển chung là kết hợp nông – lâm –
ngư nghiệp). Hay để trả lời câu hỏi : Câu ca dao “Đêm tháng năm chưa nằm
đã sáng. Ngày tháng mười chưa cười đã tối” có đúng với tất cả mọi nơi trên
Trái Đất không ? HS phải sử dụng thao tác phân tích (để làm rõ câu ca dao
từ phương diện địa lí), tổng hợp (để nêu lên cái chung về sự thay đổi ngày
đêm theo mùa và theo vĩ độ), so sánh (để phân biệt sự khác nhau về độ dài
ngày đêm theo mùa của các khu vực nội chí tuyến và ngoại chí tuyến)… Do
vậy, trả lời nhiều câu hỏi khác nhau, sẽ giúp cho việc rèn luyện các kĩ năng
tư duy.
b) Khi đã có các kĩ năng tư duy tốt, HS sẽ có điều kiện vận dụng chúng một
cách linh hoạt để trả lời các câu hỏi thi. Nên nhớ, câu hỏi thi địa lí không
phải được nêu ra dưới dạng phân tích, tổng hợp hay trừu tượng hoá, khái
quát hoá… đòi hỏi chỉ sử dụng một thao tác tư duy tương ứng. Câu hỏi thi
buộc phải sử dụng các thao tác tư duy một cách tổng hợp trên cơ sở vận
dụng các tri thức địa lí đã có ở mỗi HS. Ví dụ : Hãy trình bày và phân tích
trung tâm công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh (Đề thi năm 1998). Dựa vào
Atlát Địa lí Việt Nam, hãy so sánh hai vùng chuyên canh cây công nghiệp
Đông Nam Bộ và Trung du – miền núi phía Bắc (Đề thi năm 1999) ; Dựa
vào Atlát hãy trình bày và giải thích tình hình phân bố dân cư ở Đồng bằng
sông Cửu Long (Đề thi năm 2000) ; Căn cứ vào Atlát Địa lí Việt Nam, hãy
phân tích đặc điểm địa hình, sông ngòi, đất, thực vật và động vật của miền
Tây Bắc và Bắc Trung Bộ (Đề thi năm 2005) ; Dựa vào Atlát Địa lí Việt
Nam và kiến thức đã học, hãy phân tích sự phân hóa đa dạng của địa hình
đồi núi nước ta. Độ cao đồi núi nước ta đã ảnh hưởng đến sự phân hóa đất
như thế nào (Đề thi năm 2006)…
3. Rèn luyện kĩ năng địa lí
a) Kĩ năng làm việc với bản đồ
– Kĩ năng làm việc với bản đồ là kĩ năng cơ bản của môn Địa lí. Nếu không
nắm vững kĩ năng này thì khó có thể hiểu và giải thích được các sự vật, hiện

tượng địa lí, đồng thời cũng rất khó tự mình tìm tòi các kiến thức địa lí khác.
Do tính chất cơ bản của kĩ năng, nên trong các đề thi HS giỏi quốc gia môn
137
Địa lí, việc kiểm tra kĩ năng này được thực hiện chủ yếu thông qua yêu cầu
làm việc với Atlát Địa lí Việt Nam. Tuy nhiên, nếu HS không rõ các nhiệm
vụ và kĩ thuật sử dụng bản đồ thì không thể làm việc trên các trang bản đồ
của Atlát đươc. Do vậy, việc rèn luyện kĩ năng làm việc với bản đồ là không
thể thiếu khi học môn Địa lí.
– Thông thường khi làm việc với bản đồ, HS cần phải :
+ Hiểu hệ thống kí, ước hiệu bản đồ.
+ Nhận biết, chỉ và đọc tên các đối tượng địa lí trên bản đồ
+ Xác định phương hướng, khoảng cách, vĩ độ, kinh độ, kích thước, hình thái
và vị trí các đối tượng địa lí trên lãnh thổ.
+ Mô tả đặc điểm đối tượng trên bản đồ.
+ Xác định các mối liên hệ không gian trên bản đồ.
+ Xác định các mối quan hệ tương hỗ và nhân quả thể hiện trên bản đồ.
+ Mô tả tổng hợp một khu vực, một bộ phận lãnh thổ (vị trí địa lí, địa hình, khí
hậu, thuỷ văn, đất đai, thực vật, động vật, dân cư, kinh tế).
Đối với HS giỏi, những việc làm trên tất yếu phải được thực hiện một cách
thành thạo để đạt mức cao nhất của kĩ năng bản đồ là đọc bản đồ (phân tích
được các mối liên hệ nhân quả, mô tả tổng hợp một lãnh thổ, một ngành,
một thành phần tự nhiên,…).
– Muốn đọc được bản đồ, yêu cầu phải có kiến thức địa lí. Ví dụ, muốn phân
tích được tại sao mưa tập trung nhiều nhất ở vùng xích đạo, mưa tương đối
ít ở hai vùng chí tuyến Bắc và Nam, thì ngoài việc quan sát bản đồ, cần
phải có kiến thức về mối quan hệ giữa lượng mưa và áp thấp, áp cao, sự
bốc hơi nước nhiều từ các đại dương và rừng xích đạo trong điều kiện
nhiệt lượng lớn, sự bốc hơi nước kém hơn ở vùng lục địa có diện tích lớn ở
khu vực chí tuyến…
b) Kĩ năng làm việc với Atlát Địa lí Việt Nam

– Câu hỏi yêu cầu sử dụng Atlát Địa lí Việt Nam trở thành phổ biến trong tất
cả các đề thi HS giỏi quốc gia từ trước đến nay. Để khai thác kiến thức từ
Atlát, yêu cầu HS phải sử dụng tổng hợp cả kiến thức và kĩ năng địa lí, đồng
thời phải sử dụng kĩ năng tư duy, trong nhiều trường hợp còn cần đến óc
sáng tạo. Do vậy, trong nhiều đề thi HS giỏi quốc gia, có đến 2 câu hỏi yêu
cầu làm việc với Atlát Địa lí Việt nam (năm 2005 và năm 2006 chẳng hạn).
– Thông thường câu hỏi gắn với Atlát có dạng “Dựa vào Atlát Địa lí Việt Nam
và kiến thức đã học….”. Ví dụ : Dựa vào Atlát Địa lí Việt Nam và kiến thức
138
đã học, hãy so sánh mạng lưới đô thị giữa hai vùng : Trung du và miền núi
Bắc Bộ với Tây Nguyên (Đề thi năm 2006).
Với những câu hỏi kiểu này, nhiều thí sinh chỉ dựa vào một trong hai cơ sở
trên (hoặc là riêng Atlát, hoặc riêng kiến thức đã học) để làm bài. Việc làm
đó không cho phép trình bày kiến thức một cách đầy đủ. Nếu chỉ dựa vào
kiến thức đã học, nhiều kiến thức từ Atlát bị bỏ sót, đặc biệt là các kiến thức
về sự phân bố cụ thể, mối quan hệ về mặt không gian lãnh thổ của các sự
vật, hiện tượng địa lí…. Nhưng nếu chỉ dựa vào Atlát địa lí, nhiều kiến thức
như tình hình phát triển, nguyên nhân phát triển, về đường lối, chính sách,
kinh nghiệm và truyền thống sản xuất của dân cư… không được đề cập đến
một cách đầy đủ và hợp lí.
Kinh nghiệm ôn luyện HS giỏi quốc gia cho thấy, trong những trường hợp
như vậy phải chú ý phân biệt các loại kiến thức có thể khai thác từ Atlát địa
lí, các loại kiến thức không thể hoặc rất khó thể hiện rõ trên Atlát, phải khai
thác từ vốn kiến thức đã có của bản thân. Trong mỗi ý trình bày của bài làm,
cần kết hợp hai loại kiến thức này với nhau một cách thích hợp. Sau đây là
một ví dụ kết hợp kiến thức khai thác được trên Atlát địa lí với kiến thức đã
có của bản thân.
Ví dụ : Dựa vào Atlát Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy phân tích đặc
điểm của đất (thổ nhưỡng) miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
– Những kiến thức có thể khai thác được từ Atlat một cách rất rõ ràng :

+ Nhiều loại đất khác nhau (đất feralit, đất phù sa,…).
+ Đất feralit nâu đỏ trên đá ba dan : tập trung ở các cao nguyên Tây Nguyên.
+ Đất feralit trên các loại đá khác : chiếm diện tích lớn và phân bố rộng rãi ở
vùng núi Trường Sơn Nam và Đông Nam Bộ.
+ Ở các vùng núi, độ cao trên 500 – 600 m đến 1600 – 1700 m có đất mùn vàng
đỏ trên núi, độ cao trên 1600 – 1700 m có đất mùn alit núi cao, diện tích
không lớn.
+ Đất xám bạc màu trên đá axit tập trung ở Tây Nguyên và rải rác ven biển ở
các đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ.
+ Đất xám bạc màu trên phù sa cổ, tập trung nhiều ở Đông Nam Bộ. Ngoài ra,
còn có ở duyên hải Nam Trung Bộ.
+ Đất phù sa của sông Cửu Long tập trung nhiều ở ven sông Tiền và sông Hậu.
+ Đất phù sa của đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ nằm rải rác ven biển.
+ Đất phèn, đất mặn chiếm diện tích lớn ở đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài
ra, còn có ở vùng cửa sông ven biển ở duyên hải Nam Trung Bộ.
139
+ Đất cát ven biển : phân bố dọc bờ biển, nhiều nhất ở duyên hải Nam Trung
Bộ.
– Những kiến thức phải huy động từ vốn tri thức đã có :
+ Đất (thổ nhưỡng) ở miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ cũng như đất ở các
miền tự nhiên khác của nước ta rất đa đạng, với nhiều loại khác nhau.
+ Đất feralit nâu đỏ trên đá ba dan : tập trung ở các cao nguyên Tây Nguyên
khoảng trên 1,3 triệu ha. Đất này được hình thành trên cơ sở phong hoá đá
ba dan, có tầng dày, khá phì nhiêu.
+ Đất xám bạc màu trên phù sa cổ, tập trung nhiều ở Đông Nam Bộ trên
900.000 ha.
+ Đất phù sa của sông Cửu Long là loại đất tốt, có thành phần cơ giới nặng, từ
đất thịt đến sét, phần lớn diện tích được bồi tụ phù sa vào mùa lũ.
+ Đất phù sa của đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ, được hình thành bởi sự
bồi tụ của phù sa sông và biển, đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt

nhẹ, đất chua, nghèo mùn và dinh dưỡng.
+ Đất phèn có đặc tính chua ; đất mặn có loại mặn ít, mặn nhiều,…
+ Đất cát ven biển nghèo mùn và chất dinh dưỡng.
– Kết hợp cả hai nguồn kiến thức, có :
a) Đất (thổ nhưỡng) ở miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ cũng như đất ở các miền
tự nhiên khác của nước ta rất đa đạng, với nhiều loại khác nhau (đất feralit, đất
phù sa,…).
b) Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ có các loại đất sau :
– Đất feralit
+ Đất feralit nâu đỏ trên đá ba dan : tập trung ở các cao nguyên Tây Nguyên
(khoảng trên 1,3 triệu ha) và Đông Nam Bộ. Đất này được hình thành trên cơ
sở phong hoá đá ba dan, có tầng dày, khá phì nhiêu.
+ Đất feralit trên các loại đá khác : chiếm diện tích lớn và phân bố rộng rãi ở
vùng núi Trường Sơn Nam và Đông Nam Bộ.
+ Ngoài ra, ở các vùng núi, độ cao trên 500 – 600 m đến 1600 – 1700 m có
đất mùn vàng đỏ trên núi, độ cao trên 1600 – 1700 m có đất mùn alit núi
cao, diện tích không lớn.
– Đất xám
+ Đất xám bạc màu trên đá axit tập trung ở Tây Nguyên và rải rác ven biển ở
các đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ.
140
+ Đất xám bạc màu trên phù sa cổ, tập trung nhiều ở Đông Nam Bộ (trên
900.000 ha). Ngoài ra, còn có ở duyên hải Nam Trung Bộ.
– Đất phù sa
+ Đất phù sa của sông Cửu Long tập trung nhiều ở ven sông Tiền và sông Hậu.
Đây là loại đất tốt, có thành phần cơ giới nặng, từ đất thịt đến sét, phần lớn
diện tích được bồi tụ phù sa vào mùa lũ.
+ Đất phù sa của đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ, được hình thành bởi sự
bồi tụ của phù sa sông và biển, đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt
nhẹ, đất chua, nghèo mùn và dinh dưỡng.

– Đất phèn, đất mặn chiếm diện tích lớn ở đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài
ra, còn có ở vùng cửa sông ven biển ở duyên hải Nam Trung Bộ. Đất phèn có
đặc tính chua ; đất mặn có loại mặn ít, có loại mặn nhiều,…
– Đất cát ven biển : phân bố dọc bờ biển, nhiều nhất ở duyên hải Nam Trung
Bộ ; đất nghèo mùn và chất dinh dưỡng.
– Các yêu cầu làm việc với Atlát Địa lí Việt Nam rất đa dạng. Trong phạm vi
ôn luyện thi HS giỏi quốc gia môn Địa lí THPT, cần lưu ý tập trung vào các
chủ điểm sau :
+ Trình bày vị trí địa lí của quốc gia, miền, vùng, tỉnh, trung tâm công
nghiệp/thành phố lớn,… và nêu ý nghĩa (vị trí toán học, vị trí địa lí tự nhiên,
vị trí địa lí kinh tế).
+ Trình bày và giải thích về đặc điểm chung của tự nhiên Việt Nam (địa hình
nhiều đồi núi, tác động đến cảnh quan tự nhiên và sự phát triển KT – XH ;
đặc điểm của Biển Đông, ảnh hưởng đến thiên nhiên nước ta ; thiên nhiên
nhiệt đới ẩm gió mùa (khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, địa hình xâm thực – bồi
tụ, thuỷ văn của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, đất feralit, hệ sinh thái rừng
nhiệt đới ẩm gió mùa) ; thiên nhiên có sự phân hoá đa dạng theo yếu tố và
theo vùng (sự phân hóa địa hình, khí hậu – thuỷ văn, thổ nhưỡng – sinh vật,
cảnh quan thiên nhiên).
+ Trình bày và giải thích một yếu tố, thành phần địa lí tự nhiên, dân cư – xã hội
(địa chất, khoáng sản, địa hình, khí hậu, nhiệt độ và lượng mưa, sông ngòi,
đất, thực vật và động vật, dân cư, dân tộc, đô thị hoá).
+ Trình bày và giải thích về sự đa dạng của tài nguyên, một số thiên tai chủ
yếu (sự đa dạng của tài nguyên thiên nhiên, một số thiên tai chủ yếu ).
+ Trình bày và giải thích về một miền tự nhiên, so sánh các miền tự nhiên
(trình bày và giải thích về một miền tự nhiên, một khu tự nhiên, một đai cao
141
128 hoàn toàn có thể được trình diễn theo nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc vào nội dungkhái niệm. Có những khái niệm được trình diễn một cách khái quát, ngắngọn, ví dụ điển hình như : ” Thổ nhưỡng ( đất ) là lớp vật chất tơi xốp ở mặt phẳng lụcđịa, được đặc trưng bởi độ phì “, hay ” Nội lực là lực phát sinh ở bên trongTrái Đất “, … Tuy nhiên, do nội dung phức tạp của nhiều sự vật, hiện tượngđịa lí, nên một số ít khái niệm được trình diễn theo lối diễn dịch, tương quan đếnnhiều kiến thức và kỹ năng địa lí khác. Ví dụ, khái niệm về hoạt động biểu kiến hằngnăm của Mặt Trời, về hiện tượng kỳ lạ mùa và hiện tượng kỳ lạ ngày đêm dài ngắntheo mùa, về gió mùa, … Việc hiểu một khái niệm địa lí thường phải dựa trênít nhất một khái niệm khác đã học có tương quan ; có nhiều khái niệm mà đểhiểu được phải dựa trên cơ sở của nhiều khái niệm khác, ví dụ : giờ trên TráiĐất, quy luật địa đới, tính đai cao, … – Các mối liên hệ nhân quả là loại kiến thức và kỹ năng thông dụng trong địa lí. Việc giảithích những hiện tượng kỳ lạ địa lí phần nhiều phải dựa vào những mối liên hệ này. Cácmối liên hệ nhân quả có nhiều loại khác nhau. Có những mối liên hệ đơngiản ( chỉ có một nguyên do và một tác dụng ), ví dụ : mối liên hệ giữa độcao địa hình và nhiệt độ không khí, nhiệt độ và khí áp, nhiệt độ và khí áp, cấutạo của đá và nước ngầm, chính sách mưa và nhiệt với chính sách nước sông, dòngbiển với lượng mưa ven bờ đại dương, đá mẹ và thổ nhưỡng, khí hậu và sựphân bố sinh vật, … Có những mối liên hệ nhân quả phức tạp ( một nguyênnhân gây ra nhiều hiệu quả, hay nhiều nguyên do gây ra một hiệu quả ), ví dụ : hoạt động tự quay quanh trục của Trái Đất đã gây ra những hệ quả như sự luânphiên ngày đêm, hoạt động biểu kiến hằng ngày của những thiên thể, giờtrên Trái Đất, sự lệch hướng hoạt động của những vật thể ; sự phân bổ nhiệtđộ trên Trái Đất chịu ảnh hưởng tác động của nhiều tác nhân, như : hình dạng và vị trícủa Trái Đất so với Mặt Trời, sự phân bổ lục địa và biển, những dòng biểnnóng và lạnh, …. Các nguyên do và tác dụng liên tục sau đó nhau tạo ra mộtchuỗi mối liên hệ nhân quả, ví dụ : ở thảo nguyên với khí hậu lục địa nửakhô hạn có thực vật đa phần là cỏ, tạo nên đất đen có tầng mùn dày ; ở sườnnúi, khi lên cao, nhiệt độ, lượng mưa và áp suất không khí biến hóa, do đósinh vật phân bổ theo từng vành đai thẳng đứng cũng khác nhau ; địa hìnhcó tác động ảnh hưởng đến sự phân bổ lại lượng nhiệt và ẩm trong đá mẹ, nhiệt và ẩmđó có ảnh hưởng tác động đến khunh hướng và cường độ của quy trình hình thành đất, … – Các quy luật địa lí thường được học tập trung ở chương cuối của một phầnhay một số ít phần ( trong một lớp ), có tính khái quát những mối liên hệ nhân quảphổ biến và lặp đi lặp lại tiếp tục. Học thuyết được học trong chươngtrình địa lí tuy không nhiều, nhưng rất thiết yếu cho việc hiểu được nhiều129kiến thức địa lí khác ( Ví dụ, học thuyết BicBang về sự hình thành Vũ trụ, thuyết kiến thiết mảng. Đặc biệt thuyết thiết kế mảng cho phép lý giải rấtnhiều sự vật và hiện tượng kỳ lạ trên Trái đất, ví dụ sự tạo núi, những vành đai núilửa và động đất, … ). – Ngoài những kỹ năng và kiến thức cơ bản trên, trong sách giáo khoa còn trình diễn về những sựvật hiện tượng kỳ lạ địa lí đơn cử, những hình tượng địa lí, … Các kỹ năng và kiến thức này đóngvai trò hoặc để cụ thể hoá những kiến thức và kỹ năng cơ bản trên, hoặc là cơ sở để rút racác kỹ năng và kiến thức khái quát. c ) Kiến thức địa lí đại trà phổ thông mà HS cần nắm, được chia thành 6 mức độ : Biết : Ghi nhớ được những sự kiện, khái niệm, định nghĩa, hệ quả, thuật ngữ vàcác nguyên lí dưới hình thức được học. Hiểu : Hiểu được kí hiệu, ý nghĩa và mối liên hệ trong khái niệm, định lí, hệquả, công thức, … Có năng lực diễn giải, diễn đạt, tóm tắt thông tin đã thuđược, không nhất thiết phải liên hệ tư liệu này với tư liệu khác. Vận dụng : Sử dụng thông tin trong những trường hợp khác với trường hợp đãhọc ; khái quát hoá, trừu tượng hoá những kỹ năng và kiến thức đã biết. Phân tích : Biết cách tách toàn diện và tổng thể thành những bộ phận và biết rõ sự liên hệgiữa những bộ phận đó với nhau trong cùng một cấu trúc. Tổng hợp : Biết phối hợp những bộ phận thành một tổng thể và toàn diện mới từ tổng thể và toàn diện cũ. Cần có năng lực nghiên cứu và phân tích để đi đến tổng hợp. Ở đây khởi đầu bộc lộ sựsáng tạo của cá thể. Đánh giá : Đòi hỏi có những hành vi so sánh, phê phán, tinh lọc, quyếtđịnh trên cơ sở những tiêu chuẩn và tính hợp lý. Cần có năng lực tổng hợp để đánhgiá. Cũng là một kiến thức và kỹ năng, nhưng hoàn toàn có thể nhu yếu HS nắm ở 6 mức độ khácnhau. Ví dụ : kỹ năng và kiến thức ” Hệ quả hoạt động tự quay của Trái Đất “, yêu cầutheo 6 mức như sau : – Biết : Nhớ được 3 hệ quả : sự luân phiên ngày đêm, giờ trên Trái Đất vàđường chuyển ngày quốc tế, sự lệch hướng hoạt động của những vật thể. – Hiểu : Không những nhớ mà còn phải lý giải được như thế nào là sự luânphiên ngày đêm, như thế nào là giờ địa phương, giờ quốc tế, đường chuyểnngày quốc tế, sự lệch hướng hoạt động của những vật thể khác nhau giữa haibán cầu như thế nào. – Áp dụng : Sử dụng kỹ năng và kiến thức về sự lệch hướng hoạt động của những vật thểđể lý giải sự lệch hướng gió trên Trái Đất, sự mài mòn đường ray xe lửa130bên phải ở những nước thuộc bán cầu Bắc … lý giải được hiện tượng kỳ lạ trongnhật kí ghi chậm một ngày lịch so với lịch địa phương khi về lại đích củacác đoàn thám hiểm vòng quanh Trái Đất … – Phân tích : Làm rõ được nguyên do của sự luân phiên ngày đêm là do haiyếu tố có quan hệ ngặt nghèo với nhau : Hình khối cầu của Trái Đất làm chonó luôn được chiếu sáng 50% ( ngày ), còn 50% khuất trong bóng tối ( đêm ). Đồng thời, do Trái Đất tự quay quanh trục, nên mọi nơi trên bề mặtTrái Đất đều lần lượt được Mặt Trời chiếu sáng rồi lại chìm trong bóng tối, gây nên hiện tượng kỳ lạ luân phiên ngày đêm. Thiếu đi một trong hai yếu tố đósẽ không có hiện tượng kỳ lạ luân phiên ngày đêm. Hoặc, phải đặt ra đườngchuyển ngày quốc tế, vì trên Trái Đất có một múi giờ, tại đó vừa là 0 giờ ( của ngày hôm sau ), vừa là 24 giờ ( của ngày hôm trước ). Hai bên đườngkinh tuyến có ngày khác nhau. Do vậy, khi vượt qua kinh tuyến đó theochiều từ tây sang đông phải cộng thêm một ngày ; ngược lại – phải trừ đi 1 ngày. Đường kinh tuyến đó được gọi đường chuyển ngày quốc tế. – Tổng hợp : Có nhiều cách biểu lộ khác nhau, nhưng trên cơ sở phân tíchtrên, hoàn toàn có thể HS Dự kiến được hiệu quả của trường hợp giả định nếu Trái Đấtkhông tự quay quanh trục, thì có hiện tượng kỳ lạ ngày đêm không ? Lúc đó thờigian một ngày đêm trên Trái Đất là bao nhiêu ? Hay, nếu không đặt rađường chuyển ngày quốc tế, điều gì sẽ xảy ra trong quan hệ quốc tế giữa cácnước thuộc những múi giờ khác nhau ? … HS thông thường, về cơ bản chỉ cần đạt ở mức 1 và 2, 1 số ít kỹ năng và kiến thức có thểđạt ở mức 3, 4 … là được. HS giỏi cần phải có kiến thức và kỹ năng đạt ở mức cao hơn, như nghiên cứu và phân tích, tổng hợp, đặc biệt quan trọng là nhìn nhận. Những mức này yên cầu cácem phải có một mạng lưới hệ thống tri thức địa lí nhất định, đồng thời có được những kĩnăng tư duy thiết yếu. 2. Kĩ năng địa lía ) Học Địa lí ở trung học phổ thông, HS cần phải củng cố và tăng trưởng những kĩ năng : – Quan sát, nhận xét, nghiên cứu và phân tích, tổng hợp, so sánh, nhìn nhận những sự vật, hiệntượng địa lí ; sử dụng map, biểu đồ, đồ thị, lát cắt, số liệu thống kê, … – Thu thập, xử lí, trình diễn những thông tin địa lí. – Vận dụng kỹ năng và kiến thức để lý giải những hiện tượng kỳ lạ, sự vật địa lí và giải quyếtmột số yếu tố của đời sống, sản xuất thân thiện với HS trên cơ sở tư duy kinhtế, tư duy sinh thái xanh, tư duy phê phán. b ) Kĩ năng địa lí trong nhà trường đại trà phổ thông được chia ra 5 mức độ : Bắt chước : Quan sát và nỗ lực lặp lại một kĩ năng nào đó. 131T hao tác : Hoàn thành một kĩ năng nào đó theo hướng dẫn hơn là bắt chướcmáy móc. Chuẩn hoá : Lặp lại một kĩ năng nào đó một cách đúng chuẩn, uyển chuyển, đúng đắn và thường được thực thi một cách độc lập, không phảihướng dẫn. Phối hợp : Kết hợp nhiều kĩ năng theo một trật tự, một cách uyển chuyển vàổn định. Tự động hoá : Hoàn thành một hay nhiều kĩ năng một cách thuận tiện và trởthành tự động hóa, không yên cầu một sự cố gắng về thể lực và trí tuệ. HS giỏi cần phải đạt được những mức độ 4 và 5 của kĩ năng. Nhờ vậy, những emmới hoàn toàn có thể sử dụng những kĩ năng này để tự học, tự nghiên cứu và điều tra, tìm ra nhữngkiến thức cần nắm, hoặc vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào thực tiễn đời sống đểgiải quyết những yếu tố thực tiễn. Các kĩ năng sẽ có được một cách vững chãi nhờ vào việc rèn luyện thườngxuyên và có hiệu quả trên cơ sở những hiểu biết thiết yếu về kĩ năng. 3. Tư duya ) Tư duy có nhiều loại. Trong học tập lúc bấy giờ, tư duy cần có ở HS là tư duylôgic ( xem xét sự vật trong dạng tĩnh tại ), tư duy biện chứng ( xem xét sự vậttrong sự hoạt động một cách lôgic ), tư duy hình tượng ( tưởng tượng ra sự vật, hiện tượng kỳ lạ với những đặc thù vốn có của nó ). Ngoài ra, do đặc thù của đối tượng người dùng địa lí, nên tư duy đặc trưng của địa lí làluôn xem xét sự vật trong những mối liên hệ và gắn liền với chủ quyền lãnh thổ, dựa vàobản đồ. Ví dụ : Khi nhận xét một khu vực nào đó mưa nhiều hay ít, phảixem xét chúng trong mối quan hệ với những dạng địa hình núi ( nằm ở sườnđón gió hay khuất gió, ở độ cao nào ), trong vùng khí hậu nào, gió thổi đếnhướng nào, có đi qua biển không, khu vực đó nằm gần kề hay xa biển ( hoặcđại dương ), có dòng biển nóng hay dòng lạnh chảy ven không … vì nhữngyếu tố này đều tác động ảnh hưởng đến lượng mưa nhiều hay ít của một khu vực. b ) Tư duy diễn ra trong khuôn khổ của những thao tác tư duy : nghiên cứu và phân tích, tổnghợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá. Nếu sử dụng những thao tác tưduy này một cách linh động, thì sẽ đưa đến những tác dụng thích hợp. Do vậytrong quy trình học tập cũng như ôn luyện thi HS giỏi địa lí cần phải chútrọng rèn luyện những thao tác tư duy này. 132B. MỘT SỐ BIỆN PHÁP HỌC TẬP CÓ HIỆU QUẢ TRONGÔN LUYỆN THI HỌC SINH GIỎI ĐỊA LÍ1. Nhớ kiến thức và kỹ năng một cách lôgicMuốn có tư duy lôgic, phải có một mạng lưới hệ thống kỹ năng và kiến thức nhất định. Một sốnghiên cứu của những nhà khoa học sư phạm trên quốc tế chỉ ra rằng, sở dĩtrong môn Địa lí, HS THPT lúc bấy giờ có tư duy không tốt là do thiếu nhữngkiến thức thiết yếu, trong đó đặc biệt quan trọng là mạng lưới hệ thống khái niệm địa lí. Việc nắmvững một mạng lưới hệ thống kỹ năng và kiến thức địa lí cơ bản làm cơ sở cho tư duy, sẽ tạo cơ sởcho việc nắm những kỹ năng và kiến thức địa lí mới. Kiến thức mới lại liên tục làm cơsở cho tư duy để nhận thức được những kiến thức và kỹ năng khác mới hơn … Hiện nay, một số ít HS có ý niệm cực đoan rằng chỉ cần có tư duy tốt là đủđể nắm được những kiến thức và kỹ năng thiết yếu ; hay nói cách khác, chỉ cần thông minhlà thi được HS giỏi địa lí. Đó là một ý niệm không đúng. Cần nhớ rằngmục tiêu của việc học tập là vừa có được những kỹ năng và kiến thức cơ bản, vừa pháttriển được năng lượng tư duy. Muốn tư duy phải có kiến thức và kỹ năng ( tựa như ” có bộtmới gột nên hồ ” vậy ). Không có đủ kỹ năng và kiến thức thiết yếu, như nói ở trên, không hề có tư duy địa lí được. Chính thế cho nên, học để nắm chắc kiến thức và kỹ năng làviệc làm rất là quan trọng, không riêng gì riêng so với HS giỏi địa lí, mà đốivới toàn bộ những em học sinh nói chung. Nắm chắc kiến thức và kỹ năng có nghĩa là hiểu được, nhớ lâu bền kỹ năng và kiến thức địa lí cầnthiết và hoàn toàn có thể vận dụng được vào những trường hợp đơn cử. Để nhớ lâu bền, cần phải có trí nhớ lôgic. Muốn ghi nhớ lôgic, trong quy trình ghi nhớ phảihiểu và vận dụng được những quy luật của trí nhớ. a ) Trí nhớ là hoạt động giải trí phản xạ có điều kiện kèm theo. Muốn lập được phản xạ có điềukiện, thông tin phải lặp đi lặp lại nhiều lần. Do vậy, trong ghi nhớ kiến thức và kỹ năng, việc ôn tập tiếp tục tỏ ra rất là thiết yếu. Sau 1 số ít bài, sau mộtchương hoặc một số ít chương, cần phải ôn tập để tăng cường ghi nhớ. b ) Nhớ lâu được dựa trên ấn tượng mạnh. Một kỹ năng và kiến thức hay, một cách giảiquyết yếu tố độc lạ, một lần bị sai lầm đáng tiếc và nhận ra được, … là những ấntượng khó quên, lưu lại lâu bền trong trí nhớ mỗi HS. Vì vậy, khi học bài địalí, cần quan tâm tạo ra những ấn tượng sâu về kiến thức và kỹ năng. Các ấn tượng hoàn toàn có thể bắtnguồn từ việc sử dụng phương tiện đi lại trực quan trong khi học bài ( ví dụ khihọc về những sự vật, hiện tượng kỳ lạ địa lí nên sử dụng Atlát địa lí, hay bản đồtrong SGK, map treo tường ; khi học về những tầng đất nên quan sát phẫudiện ; khi học về hình thái địa hình nên dựa vào lát cắt địa hình …. ), từ việckết hợp nghe và nhìn ( quan sát videoclip, băng hình địa lí … ), từ việc làm ( trao đổi, tranh luận với bạn ; làm những bài thực hành thực tế, giải những bài tập địa133lí … ). Một hiệu quả nghiên cứu và điều tra sư phạm đã chỉ ra : kiến thức và kỹ năng được nhớ là nhờ10 % qua đọc, 20 % qua nghe, 30 % qua nhìn, 50 % qua nghe và nhìn, 80 % qua nói và 90 % qua làm. Vì vậy, để tăng cường ghi nhớ, nên chọn những biệnpháp học tập tôn vinh vai trò của trao đổi, đàm đạo, thực hành thực tế, hoặc kết hợpnghe và nhìn, hỏi thầy và bạn về những điều chưa rõ … c ) Nhớ lâu bắt nguồn từ hứng thú học tập. Nếu một HS đam mê với việc giảithích những hiện tượng kỳ lạ địa lí, HS đó sẽ nhớ về những mối liên hệ nhân quả tốthơn ; nếu thú vị với những hiện tượng kỳ lạ địa lí diễn ra xung quanh môi trườngsống, HS đó chăm sóc nhiều hơn đến việc quan sát trong thực tiễn và vận dụng kiếnthức địa lí vào xử lý những yếu tố đó … Như vậy, hứng thú hoàn toàn có thể ví nhưmột chất men kích thích việc học tập. Hứng thú học tập phải được tạo rabằng thái độ, động lực học tập ( ví dụ học giỏi để thi đạt hiệu quả cao ) vàđược nuôi dưỡng suốt trong quy trình học tập. Mỗi khi gặp khó khăn vất vả, phảitìm cách xử lý thích hợp để đạt được nguyện vọng chính đáng đã xácđịnh khởi đầu của bản thân. d ) Kiến thức mới được ghi nhớ trong mối quan hệ với kỹ năng và kiến thức đã có. Nhữngkiến thức đã có làm cơ sở cho việc ghi nhớ những kỹ năng và kiến thức mới cùng loại. Dođó, khi học kiến thức và kỹ năng mới cần phải liên hệ với kiến thức và kỹ năng đã có. Đồng thời, khi có được một kỹ năng và kiến thức mới, cần phải xếp chúng vào mạng lưới hệ thống những kiếnthức đã có một cách phải chăng. e ) Ghi nhớ phải có tính hợp lý, đi từ dễ đến khó, từ đơn thuần đến phức tạp. Dovậy, trong quy trình học tập và rèn luyện cần chú ý quan tâm thực thi những nhiệmvụ từ dễ đến khó. g ) Tập trung chú ý quan tâm sẽ làm tăng cường trí nhớ. Thường não bộ không tiếp thuthông tin hai loại cùng một lúc. Do vậy, khi học, phải tập trung chuyên sâu tối đa vàoviệc học ( nghe giảng, họăc trao đổi tranh luận về nội dung học tập, giải bàitập … ). Học xong, mới tập trung chuyên sâu vào việc khác. g ) Những thông tin sau cản trở, góp thêm phần xoá đi những thông tin trước cùngloại và liên tục. Đó là quy luật về ức chế tương đương của trí nhớ. Do vậy, nếu vừa nghe giảng xong trên lớp, về nhà học bài ngay, không tốt bằng đểsau 5 – 6 tiếng đồng hồ đeo tay mới học lại bài trên lớp. Tuy nhiên, nếu khoảng chừng thờigian đó để quá lâu ( sau 11 – 12 tiếng đồng hồ đeo tay ví dụ điển hình ), sự ghi nhớ sẽ bịsuy giảm rất nhiều. h ) tin tức đơn thuần dễ nhớ hơn thông tin phức tạp. Vận dụng quy luật nàycủa trí nhớ, trong học tập cần xác lập những kỹ năng và kiến thức cơ bản, hoặc những đềmục một cách gọn rõ để dễ nhớ. 134 i ) Khả năng não bộ trong ghi nhớ không phải là vô hạn. Theo nhiều nhà khoahọc, một người trong một phút chỉ học được khoảng chừng 75 đơn vị chức năng thông tin, trong suốt cuộc sống chỉ nhớ nổi 58 tỉ đơn vị chức năng thông tin. Do đó, trong học tập, cần biết chọn nhớ những thông tin có ích, biết quên đi những thông tinkhông thiết yếu. Việc xác lập những kỹ năng và kiến thức cơ bản thiết yếu khi học địalí là việc làm thiết yếu so với mỗi HS giỏi. Có thể chỉ cần nhớ những kiếnthức ” chìa khoá “, khi cần sẽ sử dụng nó để tăng trưởng đến những kiến thứckhác. Ví dụ, khi học về Địa lí tự nhiên đại cương, việc thông hiểu và ghi nhớcác quy luật địa đới, phi địa đới được cho phép vận dụng chúng vào việc nhậnbiết và lý giải những hiện tượng kỳ lạ khí hậu khác nhau theo vĩ độ, theo đai cao, theo bờ đông hay bờ tây lục địa …. 2. Rèn luyện kĩ năng tư duyTư duy được bộc lộ bằng những thao tác tư duy ( nghiên cứu và phân tích, tổng hợp, sosánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá ). Để nhìn nhận một người có tư duy tốthay không tốt ( nôm na là mưu trí hay ít mưu trí hơn ), thường dựavào việc nhìn nhận năng lực của những thao tác tư duy. Do vậy, rèn luyện kĩnăng tư duy, chính là rèn luyện việc sử dụng những thao tác tư duy. a ) Việc rèn luyện tư duy một cách thông dụng nhất trong trong thực tiễn học tập làdựa vào việc tự vấn đáp những câu hỏi và triển khai những bài tập ( ở SGK, sách bàitập, từ trong thực tiễn môi trường tự nhiên xung quanh đặt ra … ). Ứng với mỗi thao tác tưduy, có một loại câu hỏi tương ứng để tập trung chuyên sâu rèn luyện thao tác tư duyđó. Ví dụ, câu hỏi nhu yếu nghiên cứu và phân tích sẽ góp thêm phần rèn luyện thao tác phântích của tư duy, câu hỏi nhu yếu trừu tượng hoá góp thêm phần rèn luyện thao táctrừu tượng hoá của tư duy … Trong học tập địa lí lúc bấy giờ, HS nên rèn luyện kĩ năng tư duy theo những loạicâu hỏi sau : + Câu hỏi nghiên cứu và phân tích : nhằm mục đích gợi ý HS tách riêng từng phần của sự vật và hiệntượng địa lí, hoặc những thành phần của mối liên hệ. Ví dụ, nghiên cứu và phân tích nhữngkhả năng để Đồng bằng sông Cửu Long thành vùng lương thực, thực phẩmhàng đầu của cả nước. Hay, phân tích sự đổi khác về mối đối sánh tương quan giữaxuất khẩu và nhập khẩu ở nước ta từ năm 1980 đến nay. + Câu hỏi tổng hợp : nhằm mục đích làm cho HS xác lập được tính thống nhất và mốiliên hệ giữa những thuộc tính của những sự vật, bộ phận hay tín hiệu của chúng. Câu hỏi tổng hợp không phải là tổng số đơn thuần những bộ phận của sự vậtđịa lí. Sự tổng hợp đúng sẽ là một hoạt động giải trí tư duy mang lại hiệu quả mớinhất về chất. Ví dụ : Chứng minh rằng nền công nghiệp nước ta có cơ cấu135ngành khá phong phú. Vị trí địa lí nước ta có những ảnh hưởng tác động như thế nào đếntự nhiên và tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội ? Hãy chứng tỏ rằng, việc xây dựngcác khu công trình thuỷ lợi có ý nghĩa số 1 để sử dụng hợp lí tài nguyênnông nghiệp của vùng Đông Nam Bộ. Hãy chứng tỏ rằng TP. Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh là hai TT công nghiệp lớn nhất nước. Phân tích và tổng hợp là hai thao tác tư duy có liên hệ mật thiết với nhau, không hề tách rời nhau khi hình thành khái niệm. Những tín hiệu bản chấtcủa hiện tượng kỳ lạ được phát hiện bằng cách nghiên cứu và phân tích hiện tượng kỳ lạ đang nghiêncứu. Đạt tới thực chất của hiện tượng kỳ lạ trong sự hoàn hảo và thống nhất làsản phẩm của tổng hợp. Do vậy câu hỏi nghiên cứu và phân tích và tổng hợp luôn luôn đikèm với nhau, có quan hệ ngặt nghèo với nhau, đôi lúc trong loại câu hỏi nàycó thành phần của loại câu hỏi kia tham gia. + Câu hỏi so sánh, liên hệ : nhằm mục đích liên hệ những sự vật và hiện tượng kỳ lạ địa lí lại vớinhau trong những mối quan hệ địa lí hoàn toàn có thể có và thiết lập sự giống nhau, khácnhau giữa chúng. Ví dụ : Hai TT công nghiệp lớn Thành Phố Hà Nội và TP. HồChí Minh có những điểm giống nhau như thế nào về cơ cấu tổ chức ngành ? Nêunhững điểm giống nhau và khác nhau về nguồn lực tăng trưởng kinh tế tài chính – xãhội của vùng Đông Nam Bộ với Trung du và miền núi Bắc Bộ. Sự khácnhau đó có ảnh hưởng tác động như thế nào đến sự tăng trưởng kinh tế tài chính của hai vùng ? Phân biệt những hình thức tổ chức triển khai trang trại, thể tổng hợp nông nghiệp và vùngnông nghiệp … Khi đặt câu hỏi so sánh, những đối tượng người dùng so sánh hoàn toàn có thể cónhững nét tương đương hay trái ngược nhau. + Câu hỏi nguyên do – tác dụng : là loại câu hỏi nêu lên mối liên hệ nhân quả, một trong những dạng liên hệ có đặc thù thông dụng trong bài địa lí. Ví dụ : Tại sao thời hạn mùa nóng ở Bắc bán cầu dài hơn ở Nam bán cầu ? Tại saophân bố dân cư trên quốc tế có sự khác nhau giữa những vùng, những lục địa, những vương quốc ? Giải thích tại sao những thành phố lớn cũng đồng thời là cáctrung tâm dịch vụ lớn. Tại sao ngành công nghiệp chế biến lương thực, thựcphẩm trở thành ngành công nghiệp trọng điểm của nước ta ? … + Câu hỏi khái quát hóa : là loại câu hỏi dùng để khái quát hóa những kiến thứccụ thể, nêu lên cái chính, cái cơ bản, cái ” chung “, thường dùng vào cuốichương hay tổng quát cuối bài. Ví dụ : Hãy nêu những thế mạnh của vùngĐông Nam Bộ trong việc tăng trưởng tổng hợp nền kinh tế tài chính vùng ? Nêu nhữngđặc điểm cơ bản của khu công nghiệp tập trung chuyên sâu và TT công nghiệp. Thực tế cho thấy, để thực thi một thắc mắc, dù với nhu yếu chính là sử dụngmột thao tác tư duy, nhưng HS vẫn phải vận dụng nhiều thao tác tư duy đểthực hiện. Ví dụ : Để vấn đáp thắc mắc ” Tại sao ở Duyên hải miền Trung cần136phải phối hợp nông – lâm – ngư nghiệp trong tăng trưởng kinh tế tài chính ? “, HS cần phảisử dụng nhiều thao tác tư duy như : nghiên cứu và phân tích ( để thấy rõ tiềm năng và hiệntrạng tăng trưởng nông – lâm – ngư nghiệp ), tổng hợp ( để thấy được bức tranhchung về tiềm năng và thực trạng tăng trưởng nông – lâm – ngư nghiệp ), trừutượng hoá ( để chọn ra được hướng tăng trưởng chính của vùng chủ quyền lãnh thổ vàkhái quát hoá ( để Tóm lại về hướng tăng trưởng chung là phối hợp nông – lâm – ngư nghiệp ). Hay để vấn đáp thắc mắc : Câu ca dao ” Đêm tháng năm chưa nằmđã sáng. Ngày tháng mười chưa cười đã tối ” có đúng với tổng thể mọi nơi trênTrái Đất không ? HS phải sử dụng thao tác nghiên cứu và phân tích ( để làm rõ câu ca daotừ phương diện địa lí ), tổng hợp ( để nêu lên cái chung về sự biến hóa ngàyđêm theo mùa và theo vĩ độ ), so sánh ( để phân biệt sự khác nhau về độ dàingày đêm theo mùa của những khu vực nội chí tuyến và ngoại chí tuyến ) … Dovậy, vấn đáp nhiều câu hỏi khác nhau, sẽ giúp cho việc rèn luyện những kĩ năngtư duy. b ) Khi đã có những kĩ năng tư duy tốt, HS sẽ có điều kiện kèm theo vận dụng chúng mộtcách linh động để vấn đáp những câu hỏi thi. Nên nhớ, câu hỏi thi địa lí khôngphải được nêu ra dưới dạng nghiên cứu và phân tích, tổng hợp hay trừu tượng hoá, kháiquát hoá … yên cầu chỉ sử dụng một thao tác tư duy tương ứng. Câu hỏi thibuộc phải sử dụng những thao tác tư duy một cách tổng hợp trên cơ sở vậndụng những tri thức địa lí đã có ở mỗi HS. Ví dụ : Hãy trình diễn và phân tíchtrung tâm công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh ( Đề thi năm 1998 ). Dựa vàoAtlát Địa lí Nước Ta, hãy so sánh hai vùng chuyên canh cây công nghiệpĐông Nam Bộ và Trung du – miền núi phía Bắc ( Đề thi năm 1999 ) ; Dựavào Atlát hãy trình diễn và lý giải tình hình phân bổ dân cư ở Đồng bằngsông Cửu Long ( Đề thi năm 2000 ) ; Căn cứ vào Atlát Địa lí Nước Ta, hãyphân tích đặc thù địa hình, sông ngòi, đất, thực vật và động vật hoang dã của miềnTây Bắc và Bắc Trung Bộ ( Đề thi năm 2005 ) ; Dựa vào Atlát Địa lí ViệtNam và kỹ năng và kiến thức đã học, hãy phân tích sự phân hóa phong phú của địa hìnhđồi núi nước ta. Độ cao đồi núi nước ta đã ảnh hưởng tác động đến sự phân hóa đấtnhư thế nào ( Đề thi năm 2006 ) … 3. Rèn luyện kĩ năng địa lía ) Kĩ năng thao tác với map – Kĩ năng thao tác với map là kĩ năng cơ bản của môn Địa lí. Nếu khôngnắm vững kĩ năng này thì khó hoàn toàn có thể hiểu và lý giải được những sự vật, hiệntượng địa lí, đồng thời cũng rất khó tự mình tìm tòi những kiến thức và kỹ năng địa lí khác. Do đặc thù cơ bản của kĩ năng, nên trong những đề thi HS giỏi vương quốc môn137Địa lí, việc kiểm tra kĩ năng này được triển khai đa phần trải qua yêu cầulàm việc với Atlát Địa lí Nước Ta. Tuy nhiên, nếu HS không rõ những nhiệmvụ và kĩ thuật sử dụng map thì không hề thao tác trên những trang bản đồcủa Atlát đươc. Do vậy, việc rèn luyện kĩ năng thao tác với map là khôngthể thiếu khi học môn Địa lí. – Thông thường khi thao tác với map, HS cần phải : + Hiểu mạng lưới hệ thống kí, ước hiệu map. + Nhận biết, chỉ và đọc tên những đối tượng người tiêu dùng địa lí trên map + Xác định phương hướng, khoảng cách, vĩ độ, kinh độ, size, hình tháivà vị trí những đối tượng người dùng địa lí trên chủ quyền lãnh thổ. + Mô tả đặc thù đối tượng người tiêu dùng trên map. + Xác định những mối liên hệ khoảng trống trên map. + Xác định những mối quan hệ tương hỗ và nhân quả biểu lộ trên map. + Mô tả tổng hợp một khu vực, một bộ phận chủ quyền lãnh thổ ( vị trí địa lí, địa hình, khíhậu, thuỷ văn, đất đai, thực vật, động vật hoang dã, dân cư, kinh tế tài chính ). Đối với HS giỏi, những việc làm trên tất yếu phải được thực thi một cáchthành thạo để đạt mức cao nhất của kĩ năng map là đọc map ( phân tíchđược những mối liên hệ nhân quả, diễn đạt tổng hợp một chủ quyền lãnh thổ, một ngành, một thành phần tự nhiên, … ). – Muốn đọc được map, nhu yếu phải có kiến thức và kỹ năng địa lí. Ví dụ, muốn phântích được tại sao mưa tập trung chuyên sâu nhiều nhất ở vùng xích đạo, mưa tương đốiít ở hai vùng chí tuyến Bắc và Nam, thì ngoài việc quan sát map, cầnphải có kỹ năng và kiến thức về mối quan hệ giữa lượng mưa và áp thấp, áp cao, sựbốc hơi nước nhiều từ những đại dương và rừng xích đạo trong điều kiệnnhiệt lượng lớn, sự bốc hơi nước kém hơn ở vùng lục địa có diện tích quy hoạnh lớn ởkhu vực chí tuyến … b ) Kĩ năng thao tác với Atlát Địa lí Nước Ta – Câu hỏi nhu yếu sử dụng Atlát Địa lí Nước Ta trở thành thông dụng trong tấtcả những đề thi HS giỏi vương quốc từ trước đến nay. Để khai thác kiến thức và kỹ năng từAtlát, nhu yếu HS phải sử dụng tổng hợp cả kiến thức và kỹ năng và kĩ năng địa lí, đồngthời phải sử dụng kĩ năng tư duy, trong nhiều trường hợp còn cần đến ócsáng tạo. Do vậy, trong nhiều đề thi HS giỏi vương quốc, có đến 2 câu hỏi yêucầu thao tác với Atlát Địa lí Việt nam ( năm 2005 và năm 2006 ví dụ điển hình ). – Thông thường câu hỏi gắn với Atlát có dạng ” Dựa vào Atlát Địa lí Việt Namvà kiến thức và kỹ năng đã học …. “. Ví dụ : Dựa vào Atlát Địa lí Nước Ta và kiến thức138đã học, hãy so sánh mạng lưới đô thị giữa hai vùng : Trung du và miền núiBắc Bộ với Tây Nguyên ( Đề thi năm 2006 ). Với những câu hỏi kiểu này, nhiều thí sinh chỉ dựa vào một trong hai cơ sởtrên ( hoặc là riêng Atlát, hoặc riêng kỹ năng và kiến thức đã học ) để làm bài. Việc làmđó không được cho phép trình diễn kiến thức và kỹ năng một cách vừa đủ. Nếu chỉ dựa vàokiến thức đã học, nhiều kỹ năng và kiến thức từ Atlát bị bỏ sót, đặc biệt quan trọng là những kiến thứcvề sự phân bổ đơn cử, mối quan hệ về mặt khoảng trống chủ quyền lãnh thổ của những sựvật, hiện tượng kỳ lạ địa lí …. Nhưng nếu chỉ dựa vào Atlát địa lí, nhiều kiến thứcnhư tình hình tăng trưởng, nguyên do tăng trưởng, về đường lối, chủ trương, kinh nghiệm tay nghề và truyền thống lịch sử sản xuất của dân cư … không được đề cập đếnmột cách rất đầy đủ và phải chăng. Kinh nghiệm ôn luyện HS giỏi vương quốc cho thấy, trong những trường hợpnhư vậy phải chú ý quan tâm phân biệt những loại kỹ năng và kiến thức hoàn toàn có thể khai thác từ Atlát địalí, những loại kiến thức và kỹ năng không hề hoặc rất khó bộc lộ rõ trên Atlát, phải khaithác từ vốn kiến thức và kỹ năng đã có của bản thân. Trong mỗi ý trình diễn của bài làm, cần phối hợp hai loại kiến thức và kỹ năng này với nhau một cách thích hợp. Sau đây làmột ví dụ tích hợp kiến thức và kỹ năng khai thác được trên Atlát địa lí với kiến thức và kỹ năng đãcó của bản thân. Ví dụ : Dựa vào Atlát Địa lí Nước Ta và kiến thức và kỹ năng đã học, hãy nghiên cứu và phân tích đặcđiểm của đất ( thổ nhưỡng ) miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ. – Những kiến thức và kỹ năng hoàn toàn có thể khai thác được từ Atlat một cách rất rõ ràng : + Nhiều loại đất khác nhau ( đất feralit, đất phù sa, … ). + Đất feralit nâu đỏ trên đá ba dan : tập trung chuyên sâu ở những cao nguyên Tây Nguyên. + Đất feralit trên những loại đá khác : chiếm diện tích quy hoạnh lớn và phân bổ thoáng đãng ởvùng núi Trường Sơn Nam và Đông Nam Bộ. + Ở những vùng núi, độ cao trên 500 – 600 m đến 1600 – 1700 m có đất mùn vàngđỏ trên núi, độ cao trên 1600 – 1700 m có đất mùn alit núi cao, diện tíchkhông lớn. + Đất xám bạc mầu trên đá axit tập trung chuyên sâu ở Tây Nguyên và rải rác ven biển ởcác đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ. + Đất xám bạc mầu trên phù sa cổ, tập trung chuyên sâu nhiều ở Đông Nam Bộ. Ngoài ra, còn có ở duyên hải Nam Trung Bộ. + Đất phù sa của sông Cửu Long tập trung chuyên sâu nhiều ở ven sông Tiền và sông Hậu. + Đất phù sa của đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ nằm rải rác ven biển. + Đất phèn, đất mặn chiếm diện tích quy hoạnh lớn ở đồng bằng sông Cửu Long. Ngoàira, còn có ở vùng cửa sông ven biển ở duyên hải Nam Trung Bộ. 139 + Đất cát ven biển : phân bổ dọc bờ biển, nhiều nhất ở duyên hải Nam TrungBộ. – Những kỹ năng và kiến thức phải kêu gọi từ vốn tri thức đã có : + Đất ( thổ nhưỡng ) ở miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ cũng như đất ở cácmiền tự nhiên khác của nước ta rất đa đạng, với nhiều loại khác nhau. + Đất feralit nâu đỏ trên đá ba dan : tập trung chuyên sâu ở những cao nguyên Tây Nguyênkhoảng trên 1,3 triệu ha. Đất này được hình thành trên cơ sở phong hoá đába dan, có tầng dày, khá phì nhiêu. + Đất xám bạc mầu trên phù sa cổ, tập trung chuyên sâu nhiều ở Đông Nam Bộ trên900. 000 ha. + Đất phù sa của sông Cửu Long là loại đất tốt, có thành phần cơ giới nặng, từđất thịt đến sét, phần đông diện tích quy hoạnh được bồi tụ phù sa vào mùa lũ. + Đất phù sa của đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ, được hình thành bởi sựbồi tụ của phù sa sông và biển, đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịtnhẹ, đất chua, nghèo mùn và dinh dưỡng. + Đất phèn có đặc tính chua ; đất mặn có loại mặn ít, mặn nhiều, … + Đất cát ven biển nghèo mùn và chất dinh dưỡng. – Kết hợp cả hai nguồn kỹ năng và kiến thức, có : a ) Đất ( thổ nhưỡng ) ở miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ cũng như đất ở những miềntự nhiên khác của nước ta rất đa đạng, với nhiều loại khác nhau ( đất feralit, đấtphù sa, … ). b ) Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ có những loại đất sau : – Đất feralit + Đất feralit nâu đỏ trên đá ba dan : tập trung chuyên sâu ở những cao nguyên Tây Nguyên ( khoảng chừng trên 1,3 triệu ha ) và Đông Nam Bộ. Đất này được hình thành trên cơsở phong hoá đá ba dan, có tầng dày, khá phì nhiêu. + Đất feralit trên những loại đá khác : chiếm diện tích quy hoạnh lớn và phân bổ thoáng rộng ởvùng núi Trường Sơn Nam và Đông Nam Bộ. + Ngoài ra, ở những vùng núi, độ cao trên 500 – 600 m đến 1600 – 1700 m cóđất mùn vàng đỏ trên núi, độ cao trên 1600 – 1700 m có đất mùn alit núicao, diện tích quy hoạnh không lớn. – Đất xám + Đất xám bạc mầu trên đá axit tập trung chuyên sâu ở Tây Nguyên và rải rác ven biển ởcác đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ. 140 + Đất xám bạc mầu trên phù sa cổ, tập trung chuyên sâu nhiều ở Đông Nam Bộ ( trên900. 000 ha ). Ngoài ra, còn có ở duyên hải Nam Trung Bộ. – Đất phù sa + Đất phù sa của sông Cửu Long tập trung chuyên sâu nhiều ở ven sông Tiền và sông Hậu. Đây là loại đất tốt, có thành phần cơ giới nặng, từ đất thịt đến sét, phần lớndiện tích được bồi tụ phù sa vào mùa lũ. + Đất phù sa của đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ, được hình thành bởi sựbồi tụ của phù sa sông và biển, đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịtnhẹ, đất chua, nghèo mùn và dinh dưỡng. – Đất phèn, đất mặn chiếm diện tích quy hoạnh lớn ở đồng bằng sông Cửu Long. Ngoàira, còn có ở vùng cửa sông ven biển ở duyên hải Nam Trung Bộ. Đất phèn cóđặc tính chua ; đất mặn có loại mặn ít, có loại mặn nhiều, … – Đất cát ven biển : phân bổ dọc bờ biển, nhiều nhất ở duyên hải Nam TrungBộ ; đất nghèo mùn và chất dinh dưỡng. – Các nhu yếu thao tác với Atlát Địa lí Nước Ta rất phong phú. Trong phạm viôn luyện thi HS giỏi vương quốc môn Địa lí THPT, cần quan tâm tập trung chuyên sâu vào cácchủ điểm sau : + Trình bày vị trí địa lí của vương quốc, miền, vùng, tỉnh, TT côngnghiệp / thành phố lớn, … và nêu ý nghĩa ( vị trí toán học, vị trí địa lí tự nhiên, vị trí địa lí kinh tế tài chính ). + Trình bày và lý giải về đặc thù chung của tự nhiên Nước Ta ( địa hìnhnhiều đồi núi, tác động ảnh hưởng đến cảnh sắc tự nhiên và sự tăng trưởng KT – XH ; đặc thù của Biển Đông, ảnh hưởng tác động đến vạn vật thiên nhiên nước ta ; thiên nhiênnhiệt đới ẩm gió mùa ( khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm gió mùa, địa hình xâm thực – bồitụ, thuỷ văn của vùng nhiệt đới gió mùa ẩm gió mùa, đất feralit, hệ sinh thái rừngnhiệt đới ẩm gió mùa ) ; vạn vật thiên nhiên có sự phân hoá phong phú theo yếu tố vàtheo vùng ( sự phân hóa địa hình, khí hậu – thuỷ văn, thổ nhưỡng – sinh vật, cảnh sắc vạn vật thiên nhiên ). + Trình bày và lý giải một yếu tố, thành phần địa lí tự nhiên, dân cư – xã hội ( địa chất, tài nguyên, địa hình, khí hậu, nhiệt độ và lượng mưa, sông ngòi, đất, thực vật và động vật hoang dã, dân cư, dân tộc bản địa, đô thị hoá ). + Trình bày và lý giải về sự phong phú của tài nguyên, 1 số ít thiên tai chủyếu ( sự phong phú của tài nguyên vạn vật thiên nhiên, 1 số ít thiên tai đa phần ). + Trình bày và lý giải về một miền tự nhiên, so sánh những miền tự nhiên ( trình diễn và lý giải về một miền tự nhiên, một khu tự nhiên, một đai cao141